Soạn văn thị mầu lên chùa: Bài văn tự sự về lễ hội truyền thống.

- Kiến thức
Soạn văn thị mầu lên chùa: Bài văn tự sự về lễ hội truyền thống.
Soạn bài thị mầu lên chùa là việc viết văn bằng câu chữ lên cánh diều để treo lên chùa trong mục đích cầu nguyện và mong ước may mắn. Đồng thời, cũng là một hình thức truyền thống trong văn hóa Việt Nam.

"Tác giả - tác phẩm: Thị Mầu lên chùa - Ngữ văn lớp 10 Cánh diều"



I. Tìm hiểu tác phẩm Thị Mầu lên chùa



1. Thể loại: Chèo



2. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác:



 - Trích trong vở chèo “ Quan Âm Thị Kính”



3. Phương thức biểu đạt : tự sự



4. Tóm tắt: Mãng Ông có con gái là Thị Kính đến tuổi lấy chồng, song chưa gả cho ai. Thiện Sĩ, học trò, dòng dõi thi thư, đến xin làm rể. Ông bằng lòng cho họ nên vợ nên chồng. Ở nhà Thiện Sĩ chăm chỉ học bài, Thị Kính bên



Tác phẩm Thị Mầu lên chùa là một trong những tác phẩm nổi tiếng của văn học dân gian Việt Nam. Nhân vật chính trong tác phẩm là Thị Kính, một cô gái hiền lành và chân thật. Câu chuyện với nhiều tình tiết hấp dẫn đã thu hút đông đảo độc giả và làm nên tên tuổi của tác phẩm.



Thể loại của tác phẩm là chèo, một loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống của Việt Nam, thường được trình diễn trong các lễ hội, ngày hội truyền thống để thể hiện văn hóa dân tộc.



Xuất xứ của tác phẩm Thị Mầu lên chùa là từ vở chèo “Quan Âm Thị Kính”. Câu chuyện xoay quanh những mâu thuẫn trong xã hội, với những giá trị nhân văn sâu sắc được thể hiện qua những nhân vật và tình tiết trong tác phẩm.



Phương thức biểu đạt của tác phẩm là tự sự, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về tâm trạng và suy tư của nhân vật. Những tình cảm, suy nghĩ sâu sắc được thể hiện qua lời thoại và hành động của nhân vật.



Trên đây là một số thông tin về tác phẩm Thị Mầu lên chùa, một tác phẩm đặc sắc của văn học dân gian Việt Nam, đem đến cho độc giả những trải nghiệm văn học độc đáo và sâu sắc.



Khám phá thông tin chung




Soạn bài Thị Mầu lên chùa Chân trời sáng tạo - Soạn văn 10 trang 112 ...
Soạn bài Thị Mầu lên chùa Chân trời sáng tạo - Soạn văn 10 trang 112 ...




1.1 Khám phá về nghệ thuật chèo



Chèo cổ là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, kết hợp hài hòa nhiều chất liệu: dân ca, múa dân gian và các loại hình nghệ thuật dân gian khác ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Chèo được xem là một hình thức kể chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu với công chúng. Cũng như kịch nói chung, kịch bản chèo tập trung thể hiện hành động, dẫn dắt xung đột qua ngôn ngữ của nhân vật.



Cần phân biệt giữa kịch bản chèo và sân khấu chèo. Kịch bản chèo là văn bản văn học, được tiếp nhận thông qua hình thức đọc, bao gồm lời thoại của nhân vật và một số chỉ dẫn sân khấu căn bản. Sân khấu chèo là sự hiện thực hóa kịch bản chèo thông qua hoạt động trình diễn, được tiếp nhận bằng hình thức xem và nghe.



Đề tài của chèo cổ thường xoay quanh vấn đề giáo dục cách sống, cách ứng xử giữa người với người theo quan điểm đạo lí dân gian hoặc theo tư tưởng Nho giáo. Tích truyện là chất liệu xây dựng nên cốt truyện của chèo. Nhân vật trong chèo thường mang tính ước lệ với tính cách không thay đổi. Cấu trúc của một vở chèo bao gồm nhiều màn và cảnh, mỗi màn và cảnh thường xảy ra trong một khung thời gian và không gian khác nhau. Lời thoại trong chèo bao gồm lời thoại của nhân vật và tiếng đế.



1.2. Chèo Quan Âm Thị Kính



Quan Âm Thị Kính là một trong bảy vở chèo cổ đầu tiên của nghệ thuật sân khấu chèo Việt Nam, ra đời khoảng thế kỉ 17. Nội dung chính của vở chèo này đầy cảm xúc, kể về câu chuyện của Thiện Sĩ, Thị Kính và nhiều nhân vật khác, đem lại nhiều bài học ý nghĩa đối với cuộc sống con người.



1.3. Đoạn trích Thị Màu lên chùa



Thị Mầu đi lên chùa trong vở chèo "Quan Âm Thị Kính" thể hiện tính cách và đặc điểm của nhân vật Thị Kính. Sau những nỗi oan khuất, Thị Kính quyết định thay đổi dạng nam nhi và vào chùa đi tu, trải qua nhiều sự việc đầy hấp dẫn, đáng xem.



Hiểu nội dung văn bản




Soạn văn 10 trang 112 Chân trời sáng tạo - Tập 1
Soạn văn 10 trang 112 Chân trời sáng tạo - Tập 1




 



2.1. Nhân vật Thị Mầu



- "Đây rồi nhé" - "Phải gió ở đâu! Chạy từ bao giờ rồi!" - "Lẳng lơ đây cũng chẳng mòn" Phóng khoáng, táo bạo, khác biệt với hình ảnh người phụ nữ truyền thống xưa. * Quan niệm về tình yêu: - Qua lời thoại của Thị Mầu, có thể thấy nhân vật này khá phóng khoáng, tự do suy nghĩ về tình yêu. Thị Mầu nghĩ rằng chỉ cần là mong nhớ, tương tư về người ta là mình có thể tự do đến bên người đó, không ngại quy giáo, lễ nghĩa. Là duyên thì mình đến "Phải duyên thời lấy/ Chớ nghe họ hàng" * Nét đặc sắc, nổi bật: - Nhân vật này có thể nói là mang một nét mới lạ so với hình ảnh người phụ nữ truyền thống.- Thị Mầu đi ngược hẳn với đạo lí, lễ nghĩa ngày xưa, thể hiện cái tôi rất mạnh.- Điều này đã gây ấn tượng không nhỏ đến những người biết đến vở chèo



 



 



2.2. Nhân vật chú tiểu



- Đẹp như sao băng



- Cổ cao ba ngấn, lông mày nét ngang *



Lời nói:



- "A di đà Phật! Cô cho tôi biết tên để ghi vào lòng sớ"



- "A di đà Phật"



- "Một nén cũng biên"



- "Một đồng cũng kể"



- "Ngẫm oan trái nhiều phen muốn khóc" Trầm ổn, dịu dàng, hơi buồn, hình ảnh đậm vẻ truyền thống của người phụ nữ thời phong kiến dù đã quy y cửa Phật. *



Tính cách:



- Kiệm lời, không muốn nói chuyện nhiều với Thị Mầu, luôn tránh né.



Khái niệm.




Soạn bài Thị Mầu lên chùa lớp 10 hay nhất - Soạn bài Thị mầu lên chùa ...
Soạn bài Thị Mầu lên chùa lớp 10 hay nhất - Soạn bài Thị mầu lên chùa ...




3.1. Về nội dung



Đoạn trích thể hiện thành công hình ảnh Thị Mầu với tính cách lẳng lơ, buông thả, cho thấy đặc trưng của nhân vật này qua lời nói, cử chỉ và hành động đối với tiểu Kính Tâm. Qua đó cho thấy niềm cảm thông, thương cảm với thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ và ngợi ca trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của họ.



Nhân vật được tạo hình một cách chân thực và sâu sắc, mang lại sự sống động và đầy tính nhân văn cho câu chuyện.



3.2. Về nghệ thuật



Trong truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình được thể hiện rõ nét, giúp người đọc dễ dàng hiểu rõ tâm lý và hành động của từng nhân vật.



Ngoài ra, tình huống truyện được tạo ra đồng thời hấp dẫn, cuốn hút người đọc bằng cách kết hợp khéo léo giữa yếu tố tình cảm và tình tiết gay cấn.



Bài tập minh họa



Bài tập: Có ý kiến cho rằng nhân vật Thị Mầu trong đoạn trích Thị Mầu lên chùa (Quan Âm Thị Kính) là người lẳng lơ, xấu tính. Ý kiến khác lại khẳng định Thị Mầu là người dám sống thực với mình, đáng thương hơn đáng trách. Trình bày ý kiến của em về vấn đề này.



Hướng dẫn giải:



- Xác định đối tượng, nội dung, yêu cầu của đề bài



- Xem lại văn bản Thị Mầu lên chùa SGK Ngữ văn 10 tập 1 Chân Trời Sáng Tạo và tìm hiểu thêm các tài liệu tham khảo về vấn đề



- Đánh giá khách quan nguyên nhân những hành động của nhân vật Thị Mầu trong bối cảnh phong kiến và hiện đại Quan Âm Thị Kính là vở chèo cổ có sức sống lâu bền trong dân gian, vở chèo trụ vững với thời gian là tác giả đã xây dựng thành công chân dung người phụ nữ với những tính cách trái ngược với xã hội phong kiến bấy giờ. Bởi vậy khi đọc hay xem vở chèo này: Có ý kiến cho rằng nhân vật Thị Mầu trong đoạn trích Thị Mầu lên chùa (Quan Âm Thị Kính) là người lẳng lơ, xấu tính. Ý kiến khác lại khẳng định Thị Mầu là người dám sống thực với mình, đáng thương hơn đáng trách. Thị Mầu là một cô gái trẻ đẹp được thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ Chèo rất đặc trưng, đa dạng, phong phú. Thị Mầu là biểu tượng của khát vọng tình yêu, là sự phản kháng mạnh mẽ, quyết liệt của tình yêu đối với những trói buộc khắt khe, vô nhân đạo của lễ giáo phong kiến khác với số đông nhân vật nữ chính khi ra trò đều mang những nét chung của tính cách được giáo dục trong nếp lễ giáo gia đình phong kiến với nền luân lý Nho gia. Thân hình uốn éo luôn để lộ những đường cong khêu gợi…Thị Mầu từ kịch bản văn học bước ra sân khấu đã hút hồn người xem bởi ánh mắt đong đưa, lời nói ngọt ngào, sóng sánh như mật, nụ cười môi thắm, răng trắng ngọc ngà mời mọc, năm ngón tay búp măng nõn nà xòe, phẩy quạt, váy áo bay tung, dải thắt lưng xanh phấp phới, quấn quyện ngay trên đầu chú tiểu trẻ đang ngồi gõ mõ, niệm kinh, chịu trận như hóa đá… những bước đi vòng rộng nhún nhảy, dáng dấp phóng túng bay bướm đầy ắp sinh khí như muốn phá tung mọi ràng buộc của lễ nghi phong kiến. Rõ ràng vẻ bên ngoài của Thị Mầu đã toát lên tính cách, việc làm, tâm tư của Thị. Nguyên tắc đối lập trong xây dựng nhân vật chèo cổ đã làm nổi bật hai hình tượng. Thị Kính – áo nâu sồng, miệng tụng kinh, tay gõ mõ, ngồi bất động, Thị Mầu áo mớ ba mớ bảy sặc sỡ, tay cầm quạt, thoắt gập, thoắt xòe…Thị Kính trần tư bao nhiêu thì Thị Mầu cuồng nhiệt bấy nhiêu. Thị Kính dịu dàng, kín đáo, đoan trang, Thị Mầu lại mạnh mẽ, lẳng lơ, táo bạo. Thị Kính càng né tránh thì Thị Mầu càng lăn xả để thỏa mãn dục tình. Bộc lộ cảm thức về thân phận. Họ khao khát được yêu – một tình yêu chân thành, và ở một chừng mực nhất định, chèo đã hé lộ những khát khao tính dục từ phía người phụ nữ - một dục vọng hết sức con người. Nhân vật Thị Mầu trong chèo cổ biểu hiện cho một phẩm chất khác của người phụ nữ Việt Nam đó là khát khao yêu đương. Đây là quyền cơ bản của người phụ nữ nói riêng và con người nói chung. Sự thật có biết bao người con gái đau khổ, bất hạnh vì hôn nhân không tình yêu bởi hệ luật ép duyên. Nên lời Thị Mầu thể hiện sự phản kháng với lễ giáo vô lý trong xã hội mà quyền yêu và lấy người mình yêu không được ủng hộ, chấp thuận. Thị Mầu trong chèo cũng là một tấm gương điển hình về sự phá phách, chống lại những trói buộc của chế độ phong kiến hà khắc, khát khao hướng tới hạnh phúc của người phụ nữ thời bấy giờ. Người phụ nữ này dám bộc lộ hết mình, biết sống, biết khao khát tận hưởng với đời. Dám yêu, dám lên tiếng vì tình yêu - giữa xã hội phong kiến chỉ duy nhất một Thị Mầu.Thị cất lên tiếng nói nữ quyền để lật đổ thành trì lễ giáo cũ kĩ đã trở thành giáo điều, đạp đổ những lệ làng, những đạo đức giả, những quan niệm cổ hủ chà đạp lên thân phận và tước đoạt hạnh phúc con người. Mầu ở đây thật mới. Cô chấp nhận, van lơn thứ tình “ở trọ”, “qua đường” và chính trong cái quyết liệt đó đã mai phục sẵn một tâm thế liều lĩnh: “mai sau dù có ra sao cũng đành” sẽ được bùng lên. Sự nổi loạn của Thị Mầu là thách thức xã hội: “Lẳng lơ cũng chẳng hao mòn Chính chuyên chẳng để sơn son mà thờ” Thị Mầu đã dám nghĩ, dám yêu, dám bày tỏ và sẵn sàng chấp nhận hậu quả cuối cùng. Đam mê của Thị mang tính bản năng và xuất phát từ trái tim không toan tính vụ lợi, không ràng buộc. Khi bị từ chối, tình yêu càng trở nên mãnh liệt. Không đạt được mong muốn, khát khao của Thị Mầu càng cháy bỏng. Thị Mầu đã đi ngược quan niệm nam nữ thụ thụ bất thân để tiến đến sát sạt tiểu Kính mà ghẹo, mà quyến rũ bởi Thị Mầu đã say đắm vẻ đẹp của thầy Tiểu và khát khao có được tình yêu của Kính Tâm. Xét ở phương diện yêu thì Thị Mầu đúng là một cô gái hiện đại. Thị đã dám yêu, dám bày tỏ, dám vượt qua lễ giáo của xã hội phong kiến, những mong có được tình yêu của mình. Có bao nhiêu cô gái thời đại ấy đã dám làm thế như Thị Mầu. Đến ngay cả Thúy Kiều, được coi là táo bạo, bị các nhà Nho thời đó cho là “dâm” khi dám “ xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” đi tìm Kim Trọng thì cũng chỉ mới dừng lại ở ranh giới. Kiều vẫn không dám phá bỏ lễ giáo phong kiến khi nói “Nên chăng là cũng tại lòng mẹ cha” để lúc sa chân vào cuộc đời gió bụi cũng chỉ dám thốt lên một câu tiếc nuối “Nhị đào thà bẻ cho người tình chung”. Nói như vậy, không có nghĩa là chúng ta “tán thưởng” Thị Mầu về cách hành xử trong tình yêu, mà chỉ để thấy rõ hơn lý do lỗi lầm của Thị để tha thứ cho một cô gái mang cái “án lẳng lơ” theo suốt chiều dài văn hóa dân tộc. Lỗi lầm của Thị Mầu là ở chỗ yêu say đắm nhưng không hiểu rằng tình yêu cần phải có từ hai phía. Vì thế, Thị đã biến tình yêu của mình thành sự si mê mù quáng, dẫn đến bi kịch cho mình và người mình yêu. Thị Mầu là con người của nghệ thuật. Và nghệ thuật dân gian mang hơi thở của cuộc sống. Nên con người của nghệ thuật phải chăng chính là con người của cuộc đời. Và khát vọng của Thị Mầu là của bao cô gái trong xã hội phong kiến. Qua những phân tích trên thì mọi người có thể thấy rõ là em nghiêng về quan niệm thứ hai nhiều hơn.Tóm lại Thị Mầu là nhân vật dám sống thật với bản thân, dám vượt qua những lễ giáo phong kiến, sắc thái nữ quyền trong Mầu cũng hiện lên rất rõ nét hơn ở khao khát tự do yêu đương, bản năng tính dục trong Thị Mầu điều mà người phụ nữ xưa không dám làm.



Kết luận



Với việc soạn bài "Thị mầu lên chùa", chúng ta đã được trải nghiệm một hành động tuy nhỏ nhưng ý nghĩa. Những chiếc cánh diều thị mầu trên không trung không chỉ làm cho chùa trở nên đẹp hơn mà còn mang lại niềm vui và sự hứng khởi cho cả làng.



Tags:

soạn bài thị mầu lên chùa

Bình luận về Soạn văn thị mầu lên chùa: Bài văn tự sự về lễ hội truyền thống.

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
0325835031
0.03205 sec| 886.836 kb